Chào mừng quý vị đến với website của trường THCS Đồn Xá- Bình Lục-Hà Nam

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >

Giới thiệu chùm thơ Phạm Hữu Quang PHT THCS- Đồn Xá

KHÚC CA VUI

 

Tháng năm mấy chục đã từng qua

Tỵ hiềm, ân nghĩa bận lòng ta

Đồng cam đã chắc là cộng khổ ?

Lành thiện thuỷ trung mới thực là

Phúc mỏng góp gom dành hậu thế

Tài cao mong đợi vượt ông cha

Tiền quyền ai cũng riêng mình nhác

Cửa hẹp xênh sang khúc thái hoà.

 

                                                  Phạm Hữu Quang

 

 

 

Cha tôi

 

Cõng con ,con thấy Cha gầy

Dắt con, con thấy Chai dầy bàn tay

Cha đi công tác lâu ngày

Cha về, con thấy áo này năm xưa

Nỗi niềm mùa hỏng chiêm thua

Xẻ cơm, Cha để …con ngừa tháng ba

Cha ơi! Nghề thợ tài hoa

Mà sao con thấy, cửa nhà bào chơn

Bé nào hiểu hết nguồn cơn

Lớn rồi ,mới biết- Thái Sơn đã già

Thuốc tìm khắp nẻo thày xa

Đền ơn, muôn dặm đường …Cha dãi dầu

Cha già ăn mặc nhiều đâu

Cha mong,con cháu nhớ câu thuận hoà

Bao năm con chẳng chơi xa

Thương Cha tựa cửa ,trông ra mỗi chiều

Bước Cha khó nhọc nghiêng xiêu

Dìu Cha con biết – cô liêu đến ngày

Ôm Cha – lạnh cóng bàn tay

Chòm râu bạc – vuốt lần này nữa thôi

Lao tâm, cần kiệm  Cha ơi !

Thuỷ trung ,ngay thẳng giữa đời sáng trong

 

                             Phạm Hữu Quang

 

 

 

Ngõ Thầy!

 

Con trở lại ngõ Thầy

Đường quê rợp bóng cây

Quanh co bờ ao nhỏ

Thong thả con đò mây

 

Con còn nghe đâu đây

Thoảng lời thương trong gió

Ríu ran bầy trẻ nhỏ

Dạo dực hương sắc đầy

 

Con mãi tìm trên cỏ

Dấu chân không dép dầy

Con mãi tìm bàn tay

Trên đầu con khờ dại

 

Ngõ thầy con trở lại

Vẫn ao nhỏ bờ cây

Một bông dâm bụt đỏ

Gọi ai quên tháng ngày

 

Con trở lại ngõ thày

Không bạn bè trang lứa

Một đời qua một nửa

Con tìm về thơ ngây.

                          Phạm Hữu Quang

 

 

 

 

Thu I

 

Sương thu ướt lạnh bờ vai nhỏ

Khóm trà lặng lẽ uống trăng đêm

Về đâu gót đỏ tìm trong nhớ

Thảng thốt nghe thu rụng trước thềm

                      Phạm Hữu Quang

 

Thu II

 

Cuối thu rặng liếu phơi mành bạc

Gọi thời xanh mướt thuở xuân tươi

Phượng già trút lá khoe mình hạc

Vẫn đợi hè sang góp đỏ màu

Như em tóc điểm đôi sợi trắng

Ngơ ngẩn đi tìm tuổi đôi mươi

Sắc thu trong mắt em vời vợi

Vẻ xuân còn đọng khoé môi cười

                          Phạm Hữu Quang

 

 

Mẹ tôi

 

Mẹ sinh con bọc manh áo rách

Sẫm màu bùn ,nồng đượm mồ hôi

Mồ hôi quyện bùn

Thành Mẹ ,Mẹ ơi!

Nuôi con lầm lụi một đời

Áo mặc chưa lành

Cơm ăn chẳng đủ

Mồ hôi và bùn theo con vào giấc ngủ

Trong chập chờn

Vẫn tiếng Mẹ à……âu

Trong giấc mơ con

Có ruộng cạn đồng sâu

Có cả nghĩa tình bầu ơi thương bí

Có câu liêm sỉ

Đói sạch rách thơm

Con hãy nhường cơm cho người đói khát

Người hiền con đừng bắt nạt

Kẻ mạnh con chớ khom lưng

Làm điều ác nhỏ phải dừng

Thấy điều thiện nhỏ

Con đừng bỏ qua

Thanh bạch nếp nhà

Nghiệp Cha con phải giữ

Đời Mẹ khổ nên nhiều tư lự

Đôi mắt hiền

Thương cả nhân gian

Xuân sinh bởi có đông tàn

Ấm no nhớ lúc cơ hàn càng thương

Mẹơi! Mái tóc phong sương

Mẹ ơi ! gương sáng luân thường con noi

Mồ hôi áo Mẹ mặn mòi

Màu bùn áo Mẹ

Theo đòi nợ con.

                                           Phạm Hữu Quang

 

 

Hoài niệm I

 

Mấy túp liêu xiêu lạc giữa đồng

Côn trùng hỉ hả chiếm thinh không

Ngửa mặt ngắm trăng soi qua mái

Cúi đầu thấy lúa mọc xanh nhà

Con đường cát bụi trời mưa gió

Gót đỏ vương bùn thương sót sa

Gặp nhau một phút chạm niềm nhớ

Ngoảnh lại mười năm mấy bụi mờ

                                           Phạm Hữu Quang

 

Hoài niệm II

 

Bá thước

Rừng luồng sào sạc lá

Chiều Điền Lư

Xóm chợ hắt hiu

Sương núi ngìn năm

Nặng mái tranh nghèo

Phên nứa bốn bề gió rét

Đêm cuối năm

Ngọn đèn dầu leo lét

Mẹ một mình chiếc bóng lắt lay

 

Tôi gặp em phiên chợ sớm nay

Gò má đỏ hồng bếp lửa

Bánh tráng mềm

Thơm đôi bàn tay

Tuổi trăng tròn mắt biếc như say

Cười luôn miệng bước chân ríu rít

Tôi và em

Đã thành máu thịt

Yêu thương từ rất sâu

Bây giờ tóc bạc mái đầu

Chưa trở lại

Phải đâu là li biệt

Hai mươi năm nhớ thương da diết

Điền Lư ơi!

Day rứt khôn nguôi.

                               Phạm Hữu Quang

 

 

 

Chia tay sông Châu

 

Kể từ Mẹ tiễn Cha đi

Chiều xuân núi cấm xanh rì bờ lau

Dòng Châu một rạch chia sầu

Trời xanh nước biếc thu màu áo Cha

Lặng nghe Mẹ kể chuyện bà

Núi là núi Cấm sông là giọt thương

Chiều xuân buốt lạnh má hường

Mẹ ơi đừng hoá sông Tương chốn này

Hương thơm tóc Mẹ còn bay

Nuôi con mình Mẹ mỗi ngày mỗi đau

Đò ngang ơi hoá phép màu

Sông Châu cho Mẹ bắc cầu yêu thương

Chiều xuân dừng lại bên đường

Sông Châu núi Cấm còn vương mối tình

                                      Phạm Hữu Quang

 

 

Lang thang THIÊN HÀ

 

Em mang THIÊN HÀ giăng lưng trừng lớp

Để anh làm THIÊN THỂ mãi lang thang

Ta sinh ra trong vụ nổ BINH BANG

Mỗi đứa lạc một THIÊN CẦU lận đận

 

Cô đơn lắm nên tìm đôi HẤP DẪN

Em về đâu trong bối rối TINH VÂN

Đời vẫn gọi em là giải SÔNG NGÂN

Xin đừng hoá thân em làm CHỨC NỮ

 

Anh chẳng muốn làm CHÀNG NGƯU tư lự

Ô THƯỚC bắc cầu năm một lần qua

Để ngìn năm ÁNH SÁNG vẫn còn xa

Để nước mắt NGÂU rơi đầy tháng bẩy

 

Anh ĐỊNH PHƯƠNG em một đời chẳng thấy

THIÊN ĐỈNH góc nhìn lệch mấy độ

CỬU HÀNH TINH lạnh lẽo khoảng bao xa

ĐƠN VỊ THIÊN VĂN MẶT TRỜI cháy lửa

 

HÀNH TINH XANH xích đạo dù chia nửa

Hai BÁN CẦU xa cách vẫn gần nhau

Ngìn năm sau vạn vạn những năm sau

Tuần TRĂNG MẬT ta hẹn nhau em nhỉ

 

Em ở trong anh nơi không ĐỘ VĨ

Khuôn ngực căng tròn NHẬT ĐỘNG si mê

VỆ NỮ hờn ghen anh chẳng muốn về

Nhặt SAO RƠI gắn đầy em GIÔNG BÃO.

                                       Phạm Hữu Quang

 

 

Vô hình

 

Vết lằn đỏ Cha buộc bờ vai

Kéo một thời gian khó

Cái dây lưng nhỏ

Mẹ buộc đói nghèo

Bốn mùa khuya sớm

Một thuở gieo neo

Chứng phong sương

Buộc đôi chân già yếu

 

Em buộc vào vóc liễu

Một kẻ như tôi

Em buộc vào nôi

Cánh cò bay lả

Em buộc thêm vất vả

Mấy lớp trẻ thơ

 

Tôi là kẻ mộng mơ

Buộc câu thơ tình giang dở

Vào em – vào tôi

Vào cuộc đời trắc trở

                   

Phạm Hữu Quang

 

 

 

Dưa mọc đồng chiêm

 

Tôi vừa ra khỏi bờ tre

Thấy em quảy gánh tay be nắng chiều

Vai tròn cổ mấy ngấn kiêu

Cái đòn gánh nảy khoe điều thanh tân

Chắc là sắn quá gối chân

Giữa xanh ngắt mọc ngó cần đấy thôi

Xoè tay muôn hạt mưa rơi

Đầu đông dưa đã dạng ngời áo xuân

Xa rồi tà áo Tứ Thân

Vè dưa thẳng đứng thay chân con sào

Mong gì dưa được giá cao

Bõ công em để xôn xao xóm làng

Ngày xưa nước ngập mênh mang

Đồng chiêm ai dám mơ vàng ruộng dưa

Mang về một bó rau dừa

Gạt mưa Mẹ bảo đồng Bua nước nhiều

Cầu tre gió nặng xiêu xiêu

Lời ru trên nước còn yêu cháy lòng

Quê mình đồng trắng nước trong

Rêu dong xưa đã ngược dòng thời gian

Bây giờ em hết cơ hàn

Đồng chiêm sẽ mãi xanh ngàn dưa xanh

                               Phạm Hữu Quang

 

 

 

Nghe chú đọc thơ

 

Cháu về nghe chú đọc thơ

Câu thơ dang giở hẹn chờ lần sau

Cái lần sau ấy còn đâu

Để lần này thấy qua màu khói hương

Họ hàng thảng thốt bi thương

Dấu ông bà bữa cơm thường lệ chan

Trời già ơi quá đa đoan

Bắt con trẻ phải lìa đàn bơ vơ

Về đây nghe chú đọc thơ

Công Cha nghĩa Mẹ cậy nhờ anh em

Cháu đi phường phố ngủ đêm

Dấu chân lãng tử bỏ quên lại rồi

Xuân ngoài ba chục thương ôi !

Công danh sự nghiệp cháu ơi thôi đành

Bụi trần một kiếp mong manh

Xe xe ngựa ngựa phút thành hư không

Sống từng thoả chí tang bồng

Thác là về cõi linh thông tiếc gì

Thơ này tặng cháu ra đi

Nhớ về Thanh Nghĩa những khi chú mời

Âm trần cách biệt hỡi ôi !

Cháu đi lòng chú ngậm ngùi sót thương

                                        Phạm Hữu Quang

 

 

 

Khóc bạn

 

Khóc em đồng chí

Mấy giọt lệ sầu

Em ở nơi đâu

Thấu tình trăng nhẽ

Thương em còn trẻ

Giận trời xanh xa

Xuân cỗi huyên già

Mấy đầu thơ dại

Mong em ở lại

Sao em cứ đi

Em có thấy trăng

Lệ sầu ướt đẫm ngàn mi

Lòng đau trăm trò nhỏ

Ba xuân tấc cỏ

Ai đền cho em

Và còn mãi ngàn đêm

Các con em tựa cửa

Mơ giấc mơ ngày xưa

Thôi chào em đồng chí

Hai nẻo đường chia xa.

                      Phạm Hữu Quang

 

 

 

Một lần biết say

 

Một lần Chí biết mình say

Chập chờn bờ chuối gió lay một mình

Gặp em Thị Nở rất xinh

Dưới trăng bên chuối trao tình cho nhau

Lòng Chí vợi bớt nỗi đau

Bát cháo hành bắc nhịp cầu yêu thương

Ngìn năm tơ chuối còn vương

Vườn xưa người cũ vẫn thường ngủ say

Chỉ chờ có một bàn tay

Chỉ chờ người biết anh say rất hiền

                                Phạm Hữu Quang

 

 

 

 

 

Dòng sông và đôi bờ

 

Em là sông mênh mang

Anh là đôi bờ cát

Sóng rì rào sông hát

Du đôi bờ êm êm

 

Em là sông mênh mang

Anh là đôi bờ cát

Sóng hôn bờ dào rạt

Bờ ôm vòng tay đan

 

Cái nắng nào chói trang

Thiêu đôi bờ khô khát

Bờ có sông tắm mát

Sông yêu bờ chứa chan

 

Sông chảy hoài miên man

Có biết bờ theo sát

Sông oà vào biển chát

Bờ khôn tìm lối xang

 

Em đừng là sông cạn

Hãy là dòng mênh mang

Anh mãi là bờ cát

Bờ ôm dòng xuân sang

                Phạm Hữu Quang

 

 

 

Đình làng

 

Tường đình mấy lớp rêu phong

Dấu thơ mấy vạn trăng lồng bóng cây

Sông xưa giờ đã ruộng cầy

Đời người trôi tựa bèo mây ao đình

Gái quê vào hội cũng xinh

Nấu cơm dệt vải khoe mình đảm đang

Đua thuyền đấu vật mấy chàng

Thì thùng trống dục hội làng thêm say

Sân đình ai nắm cổ tay

Miếng trầu giã bạn hẹn ngày lại sang

Cong veo một mảnh hồn làng

Xa quê bao kẻ còn mang một đời.

                         Phạm Hữu Quang

 

Thiếu phụ về quê

 

Thiếu phụ

Bồng con về quê ngoại

Bâng khuâng

Đầu ngõ dừng chân

Sào xạc heo may bờ trúc

Xanh xanh cỏ mọc lối gầy

Khói lan bếp cũ thơm mùi rạ

Hoa bưởi đầu tường hương gió bay

Líu ríu bàn chân thầm nhắc

Rộn ràng một thuở đâu đây

Giật mình con nhỏ oe tiếng khóc

Thiếu phụ ngượng ngùng má đỏ hây

Ngẩn ngơ lại trách người năm ấy

Mỉm cười hạnh phúc ẵm đầy tay

                       Phạm Hữu Quang

 

Một nửa

 

Chàng đi một nửa đi rồi

Mùa xuân một nửa giữa trời bâng khuâng

Trăng non ai tỏ nửa vầng

Nửa trong vạt áo ai thầm cho ai

Nửa giường đông lạnh thêm dài

Ầu ơ một nửa gởi ai não nùng

Nửa lòng chộn rộn bão dông

Tiêu tương ơi cách mấy trùng tiêu Tương

 

Nửa đi bầm rập nhớ thương

Nửa vai gánh nặng bụi đường chiến chinh

Câu thơ một nửa lặng thinh

“Người ơi người ở…” nửa mình đi xa

Bao giờ cho hết chia xa

Châu về Hợp Phố  nửa ta nửa mình

                               Phạm Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ

 

Tan tầm trời sập tối

Phố phường bước chân vội

Hàng xóm đã lên đèn

Cổng đóng cửa cài then

Quanh mâm cười rôm rả

 

Nhà mình còn vắng quá

Sao giờ anh chưa về

Mâm cơm nằm trên kệ

Con bé chẳng chịu ăn

‘Chờ bố về luôn thể’

 

Cổng nhà mình vẫn mở

Hàng xóm chìm trong mơ

Đèn nhà mình vẫn xanh

Hâm nóng lại cơm canh

Em ngồi chờ anh về

Mâm cơm nằm trên kệ

Con bé năm ngủ mê

‘Ứ ừ con chờ bố’

 

Chợt thấy ngoài cửa sổ

Một bóng đổ liêu xiêu

Em lo sợ rất nhiều

Anh về hay kẻ trộm ?

 

Gay rồi anh bị ốm

Mặt đỏ và tay run

Chân không dép dính bùn

Hoá ra chàng say rượu

Em chân mềm tay yếu

Cố dìu anh vào nhà

Cay đắng chẳng nói ra

Trái tim oà nức nở

 

Biết than thở cùng ai

Năm canh dài mắt mở

Con bé nằm ngủ mơ

Nó mỉm cười trong đói

 

Lặng im em chẳng nói

Hâm nóng lại cơm canh

Mong cuộc sống yên lành

Đặt mâm cơm lên kệ.

                    Phạm Hữu Quang

 

 

 

Goị là em

 

Cho tôi gọi là em ,Trâm nhé

Bởi vì em ,mãi mãi tuổi hai mươi

Máu đỏ tim em ,thắp lửa cho đời

Đất Việt, ngàn năm du giấc ngủ em tôi

Hai sáu mùa xuân, em tận tuỵ làm người

Tâm hồn em, trong sáng quá em ơi

Và từ em, tôi tìm thấy trong tôi

 

                          Phạm Hữu Quang

 

Em gái Lạng Sơn

 

Tình cờ Hà Nội phố đông

Gặp em sứ Lạng má hồng inh tươi

Xốn sang khoé miệng em cười

Nao nao ánh mắt bóng người thuở  xưa

Đồng Đăng phố vắng chiều mưa

Em tôi đứng tựa cổng chùa Tam Thanh

Rượu xưa say tít trời xanh

Nắm nem, nắm tay em đành thế thôi

Mai em ngược ,tôi thì xuôi

Nàng Tô ơi! Mãi ngàn đời giá băng

                                Phạm Hữu Quang

 

 

Mắt yêu

 

Có kẻ đắm mình trong mắt biếc

Chông chênh nghiêng ngả bước chiều say

Kẻ cô đơn mong được lưu đày

Ngàn dặm trung thân trong đáy mắt

Run rẩy môi tìm tia nắng tắt

Đêm mặn tan đôi giọt trinh nguyên

Trần tục đam mê vẻ diệu huyền

Trái tim chín hoá thành màu thiếc

                               Phạm Hữu Quang

 

 

 

 

Đi chùa Hương

 

 

Cửa Phật ngày xưa bến nước trong

Núi cao khe thẳm nhuốm màu sồng

Ngày nay người thế làm bến đục

Đầy núi tràn khe đỏ với hồng

 

Núi tiếp xếp núi âm thầm bái Phật

Người chen người nhộ nhạo Thiền Môn

Gập ghềnh dốc đá trăm bậc đứng

Xiên sẹo bàn chân vạn gối chồn

 

Khói hương nghi ngút cuốn tàn tro

Tín đồ Phật Tử khấn ra trò

Cầu trời ,cầu Phật ban tài lộc

Không làm mà hưởng chóng giầu to

 

Công dài đức bạt  ghi đầy trúc

Áo nâu đầu trọc cũng đi cò

Phật ở Tây Thiên Ngài chẳng biết

Tớ ở bên này tớ chứng cho.

                 Phạm Hữu Quang

 

 

 

 

Con gaí và đàn ông

Anh là đàn ông

Em là con gái

Chiều buông cuối bãi

Sao anh chưa về

 

Anh là đàn ông

Em còn con gái

Trăng treo đầu trại

Đừng buông câu thề

 

Đừng nhìn em như thế

Anh đã là đàn ông

Em thẹn gò má hồng

Em vẫn còn con gái

 

Anh đừng quay đầu lại

Anh đã là đàn ông

Em hổng dám lấy chồng

Em tiếc thời con gái

 

Kiếp sau sin đổi lại

Em sẽ làm đàn ông

Chia phần anh con gái

Để em nằm trong trại

Cầm tay anh vụng về

Em cứ buông câu thề

Cho lòng anh bối rối

 

Trách chiều xuân đi vội

Không còn em đàn ông

Không còn anh má hồng

Chỉ còn một mùa đông

Buốt lạnh thời con gái

                  Phạm Hữu Quang

 

 

Áo ngắn

 

Áo em bay ngược xóm trên

Để anh gói mắt ném lên cho nàng

Quần bò rớt xuống cuối làng

Rốn nâu em nhặt trăng vàng cho ta

Áo dài quên một thời xa

Eo thon bụng trắng em là thời trang

                      Phạm Hữu Quang

Áo Lưới

 

Ngày xưa trắng quá nhìn không ra

Bây giờ trong quá thấu làn da

Tưởng là tiên nữ chơi lưng núi

Giăng lưới trên đồi bắt chim xa

Ước làm con cá trong lưới mắc

Giương mắt một đời nghĩ chẳng ra

                       Phạm Hữu Quang

 

 

Giới thiệu chùm thơ của thày Phạm Hữu Quang phó hiệu trưởng trường THCS Đồn Xá

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Huyền thoại một làng quê

 

 

Từ thuở bình minh của đất trời,

làng thanh Nghĩa ở đôi bờ một dòng sông nhỏ.

Ba cây cầu đá trầm tư soi bóng tự bao đời.

Bãi tiếp gò trùng điệp thế như trống dong cờ mở.

Một vùng quê trù phú tốt tươi.

             ‘Đồn rằng làng Ghĩa lắm đa

              Lắm con gái đẹp lắm nhà tường xây’

Đình ,đền chùa miếu thâm nghiêm ẩn dấu bao điều

Lịch sử làng quê thăng hoa thành huyền thoại.

Truyện kể rằng:

Thuở các Vua Hùng dựng nước

Khí thiêng một vùng núi Tản

Giáng sinh Tuấn Công ,Sùng Công và Hiển Công.

Vốn thiên tính thông minh

Lại được thần linh trợ giúp.

Vậy nên:

Văn chương làu thông vạn quyển

Võ lược rời núi lấp sông

Gặp khi:

Duệ Vương kén rể

Anh hùng thiên hạ đua tài

Thế mới hay:

‘Một trận kén rể động nhân tình

Bốn biển anh hùng quyết tử sinh

Phong Châu thành Việt rung trời đất

Ngôi báu trân truyền thật anh minh’

 

Tuấn Công- Sơn Thánh ,mạnh nhất quần hùng

Đẹp lòng công chúa ,Thánh Thượng ưa tài

Ngọc Hoa – Sơn Thánh kết mối lương duyên

 

Vua tôi hiệp đức ,thiên hạ thái bình

Khu Thanh Nghĩa lập hành cung một cõi

Dân được sống hoà bình quý hiển

Tam nhật dạ xướng ca.

Thế rồi :

Thục Vương bộ chúa Ai Lao xâm chiếm cõi bờ

Tam Thánh chọn binh tài tướng giỏi

Mang hết sức mình bình định non sông

‘Đường đường ra trận quyết xông pha

Tướng sỹ một lòng chẳng xót sa

Kiếm cung sự nghiệp anh hùng đó

Gian nan chẳng quản vị sơn hà’

 

Hai lăm trai làng Thanh Nghĩa

Được chọn làm gia tướng nội thần

Đánh mười trận Thục quân tan tác

Đất nước hoà bình vang khúc nhạc

 

Tam Thánh cùng nhau du ngoạn núi sông

Lấy Thanh Nghĩa làm nơi thờ tự

Dân làng tưng bừng mở hội

Tam Thánh hợp ý ngâm thơ

Thơ rằng:

‘Nhất đường chiêu mục tuý tinh thần

Vạn cổ hương yên nhật nhật tân

Cường thị tửu trung hoan ẩm sự

Tình lưu Thanh Nghĩa ức muôn xuân’

Nghiệp lớn đã thành

Núi Tản Viên tam Thánh cùng dạo gót

Bỗng sấm gào chớp dật ,ngày tối như đêm

Tam Thánh đã phi tiên thoát tích

Thế mới biết

Đến như gió thoảng

Đi tựa mây bay

Thượng Đẳng Phúc Thần

Các triều đại truyền nhau phong tặng

Hương Trầm nghi ngút

Làng Thanh Nghĩa muôn thuở phụng thờ

Huy hoàng thay:

Sống làm danh tướng yên non nước

Hoá tựa Thần Linh bảo Quốc dân.

 

 

Ngọc Phả tương truyền

Tám trăm năm về trước

Lý Thần Tông cầu mộng Lượng Linh Lăng

Sách vàng thơ còn ghi lại:

‘Lan Hoa nhất đoá thị chinh tường

Thiên hứa hoàng gia tác nữ nương

Lưu danh vạn cổ Thanh Nghĩa địa

Giai kỳ tương phối dữ Thiên Cương’

 

Cũng vào thuở ấy!

Làng Thanh Nghĩa trấn Sơn Nam

Có họ Nguyễn nhiều đời tích đức

Ngoại năm mươi ông Khang muộn đường con

Trời động lòng sai Thiên Tinh giáng thế

 

Mộng nuốt sao truyền qua bao thế hệ

Ngày hai lăm năm Tân Dậu tháng mười

Phòng bà Nguyệt tràn đầy gió mát

Một vùng quê ngào ngạt hương thơm

 

Cương Công sinh ra vóc dáng phi thường

Nét thanh tú ngời trên gương mặt

Học một biết mười làu thông kinh sử

Liếc mắt qua mười tám ban võ nghệ tinh thông

 

Thế mới hay !

Thiên tài gặp hội long vân

Mười một tuổi vào triều ứng thí

Bút tiên tuyệt kỹ

Văn trải gấm hoa

Nước thịnh nhân hoà

Danh ghi Tiến Sỹ

 

Kỳ diệu thay !

Mộng xưa thơ cũ, ứng hợp rõ ràng

Lâm môn song hỷ,vang khúc vinh quy

Lan Hoa lá ngọc cành vàng

Bỏ gác tía về quê dệt vải

 

Sắt cầm hoà hợp vừa được hai năm

Tướng giặc Ma Na xâm lăng bờ cõi

Vua Cha truyền gọi,ấn soái trao quyền

Bộ cấp ngựa thuỷ cho thuyền

Mười vạn tinh binh trấn an biên ải

 

Cương Công tuốt gươm vàng chói lọi

Tiếng ầm vang thề quét sạch quân thù

Công Chúa một lòng xuất giá tòng phu

Đạp sóng lớn cầm quân ba vạn

 

Đời sau có thơ rằng!

Thác vì nước ,thác là sống mãi

Chàng cầm quân thiếp cũng xin theo

Phòng loan, dựng tạm chân đèo

Đèn lồng, mượn tạm trăng treo lưng trời

Đường chiến chinh ,non phơi ánh biếc

Rừng Hoan Châu, phấp phới bào hoa

Quan san muôn dặm Sơn Hà

Gót sen thúc ngựa, chói loà ánh gươm

Trong trướng Hổ, luận bàn việc nước

Ngoài sa trường Loan Phượng sánh đôi

 

 

Giặc Chiêm hung bạo ,giết hại dân lành

Vùng biên cương chìm trong tang tóc

Cương Công hành quân thần tốc

Chon Hoan Châu làm bãi chiến trường

 

Mười trận giao tranh tung mù cát bụi

Cương Công tựa Thanh Long uyển chuyển

Ma Na như Hổ phục gầm ghì

Thương loáng như hoa bay

Đao cài như trụ đá

Cương Công vút một đường thương lạ

Đầu Ma Na rơi- đao còn ở trên tay

 

Công Chúa thúc quân xiết chặt vòng vây

Giặc dày xéo lên nhau bỏ chạy

Về nước rồi ,còn phách lạc hồn bay

Quân dân ca khúc khải hoàn.

 

Tiếc thương thay !

Công Chúa về trời đúng ngày Đoan Ngọ

Bia mộ lập ở Trường Lăng

Miếu tại đất làng Thanh Nghĩa

Thần hiệu – Lan Hoa Công Chúa Đại Vương

Dân Thanh Nghĩa gọi Người là Mẹ

Hương khói nghìn năm vẫn phụng thờ

Thế mới biết !

Lan Hoa một đoá anh hùng

Hương trời muôn thuở thơm cùng nước non.

 

Giặc đã dẹp yên

Cương Công lại giúp Vua trị nước

Thiên hạ thái bình dân sống yên vui

Oai hùng thay !

Lúc làm quan – tấm lòng trong sáng đầy nhân đức

Khi làm tướng – Ý trí cao uy dũng có thừa

 

Thôi việc nước về làng trăm cân vàng lụa

Ruộng Triều Quan vài chục mẫu cho dân

Non sông gấm vóc thoả trí phiêu du

Mười hai vị gia thần theo gót

 

Hoan Châu một ngày nắng đẹp

Núi Kim Nhan chợt sấm chớp gió mưa

Trời thu sao lớn- núi gọi Thâu Tinh

Ngày mười tháng mười Cương Công hoá Thánh

 

Huy hoàng thay !

Thiên Cương Đại Vương linh thông phù vận

Công như núi Thái đức tựa biển Đông

Vẻ vang thay !

Sinh vi non cao Minh Quang Nhật Nguyệt

Thác vi Thần Tiên bao quát Càn Khôn

 

Truyện xưa tích cũ lưu truyền

Khí thiêng giáng tụ

Sáng ngời muôn thuở Việt Nam

Vận nước thăng hoa

Thơm ngát ngàn năm Thanh Nghĩa

Vẻ vang thay

Văn tài tiến sỹ,phù vương lập nghiệp

                     Nhân đức tâm thanh mãn

Vũ ấn nguyên nhung, hộ quốc ghi danh

                             Uy dũng trí thượng thừa.

                        

 

Dân lập đình nội công ngoại quốc

Vua sắc phong là Tối Linh Từ

Thế đất quy sà triều cuốn

Trống chiêng cờ biển quy môn

Thâm nghiêmthay !

Tiền đình tụ thuỷ thiên niên thịnh

Biên ngoại trường giang thuỷ tự lưu

Tự hào thay !

Dực Lý Thần Triều Thanh Cao Nhật Nguyệt

Bình Chiêm Giảng Sách Nghĩa Động Càn Khôn

 

Dòng sông cầu đá

Cỗ khánh lão ba bàn

Tam nhật dạ xướng ca chỉ còn trong truyện kể.

 

Đất lành sinh những người hiền

Danh nhân làng Ghĩa đời nào cũng có

 

Như ông Vũ Đăng Văn thuở nọ

Dân mến yêu nên gọi quan Thương

Ông Đô Tiên viết bài ca phong thổ

Núi Nguyệt Hằng một khối con con

 

Luyện bút mài sónoi kinh nấu sử

Đỗ khoá sinh

Hai ông Đăng Thái -Hữu Bình

Tế độc lập văn tài ông Hữu Luận

Câu đối đình mượn bút hoa tiên

 

Nước nô lệ trăm năm thuộc Pháp

Dân lầm than đói rách cơ hàn

Hồ Chí Minh con đường cứu Quốc

Độc lập tự do cờ đỏ sao vàng.

 

Ông Nguyễn Quý Đáng, tuyên truyền cách mạng

Chi bộ Đảng đầu tiên ,thành lập trong làng.

Ông nguyễn Viết Dong

Bà Nguyễn Thị Liểu

Ông Đỗ Lệnh Vàng.

Thanh Nghĩa dào làng ,chống càn, kháng chiến.

 

Lập đội tự vệ, ông Vũ Đăng Thường huấn luyện

Du kích cài mìn ,đánh giặc trên đường Sáu Tư

 

Xóm Ảm cháy dân nung nấu căm thù

Bà Phạm Thị Khá nuôi quân đánh giặc.

 

Hai cuộc chiến tranh yêu nước thần kỳ.

Trai Thanh Nghĩa lấy máu viết đơn tình nguyện.

Dân lập bia các anh hùng liệt sỹ ghi công.

Những người lính trở về ,huân chương lấp lánh.

 

Văn chương vốn tự xưa nết đất

Sự học vẻ vang , nhiều tiến sỹ giáo sư.

 

Dân biết sống thuận hoà mọi nhẽ

Làng xóm phong quang,Thanh Nghĩa phồn vinh.

         Bồi hồi lắm bước chân lữ khách

         Khao khát trở về những đứa con xa

 

Nay nước thịnh nhân hoà

Củng cố nền văn hoá.

Tưởng nhớ tiền nhân.

Giữ dìn di sản.

 

Đình thờ Thiên Cương Đại Vương

Miếu ghi ơn Lan Hoa Thánh Mẫu

Đền tưởng nhớ Tam Thánh Tản Viên.

Quần thể một khu di tích.

 

Nhà Nước phong huân cấp bằng lịch sử

Dân làng mở hội ,kế tục tinh hoa.

Mưa thuận gió hoà

Mùa màng tươi tốt.

Cháu con rèn đức

Tiếp phúc luyện tài.

Học thức mở mang

Công thành danh toại.

 

Kể từ nay.

              Dân có Đảng chỉ đương dẫn lối

              Ơn Thánh Thần bảo trợ yên vui

Thanh Nghĩa thân yêu muôn đời hưng thịnh

Việt Nam đất mẹ vạn thuở vững bền.

                                                      Phạm Hữu Quang  

 

 

 

 


Nhắn tin cho tác giả
Trần Xuân Minh @ 10:07 14/04/2012
Số lượt xem: 238
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

Rừng chắn cát